Chi tiết tin tức

400 năm quan hệ văn hoá Pháp Việt: một góc nhìn

11:10:00 - 27/02/2014

Những người Pháp đầu tiên đặt chân đến Việt Nam vào thế kỷ 17 không thể tưởng tượng được rằng mối quan hệ giữa hai nước lại có nhiều bước thăng trầm đến thế  suốt những thế kỷ sau đó.

 

Một cuộc va chạm mạnh và những thành tựu bất ngờ

Dường như lịch sử đã ngẫu nhiên chọn văn hoá là điểm tiếp xúc đầu tiên và xuyên suốt của mối quan hệ Pháp Việt: những người Pháp đặt chân đến Việt Nam đầu tiên là để truyền giáo  - phổ biến một “sản phẩm” văn hoá mới tại đất nước này. Những rào cản ngôn ngữ nhanh chóng được vượt qua và sự ra đời của cuốn từ điển Việt – Bồ - La năm 1651 do giáo sĩ Alexandre de Rhodes biên soạn sau 12 năm hoạt động ở Việt Nam có thể được xem như một thành quả đáng trân trọng của cuộc tiếp xúc ban đầu này. Sự can thiệp của người Pháp ngày càng sâu hơn ở Việt Nam khi công cuộc chinh phục quyền thống trị toàn Việt Nam của vua Gia Long có bàn tay giúp đỡ của người Pháp. Sự bế quan toả cảng và cấm đạo của vua Minh Mạng đã phủ bóng đen lên quan hệ hai nước để rồi nửa sau thế kỷ 19, súng đạn đã lấn át những sự giao lưu trong những lĩnh vực khác. Cuộc tiếp biến văn hoá pháp đã diễn ra ở Miền Nam rồi Miền Trung trước khi trở nên hoàn toàn khi nước Pháp chiếm được Hà Nội năm 1884.

Sự va chạm rồi ảnh hưởng văn hoá lẫn nhau từ đây bắt đầu. Nhu cầu xây dựng các công trình công cộng và nhà ở cho người Pháp đã khai sinh ngành công nghiệp xây dựng ở Việt Nam và để lại những công trình kiến trúc độc đáo, một di sản chung cho cả hai quốc gia. Sự kết hợp giữa kiến trúc Pháp và kiến trúc bản địa đã sinh ra dòng kiến trúc Indochina (Đông Dương) độc đáo và không giống bất cứ đâu trên thế giới. Dường như người Pháp và người Việt chia sẻ quá nhiều điểm tương đồng nên kiến trúc mới sinh ra lập tức được đón nhận và trở thành di sản của ngày hôm nay với các khu phố Pháp, các toà nhà công chính như toà thị chính, kho bạc, ngân hàng, trường học, bảo tàng ở tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt,…
 

Từ đầu thế kỷ 20, khi công cuộc khai thác thuộc địa đã đi vào ổn định, văn hoá Pháp cũng hoà quyện nhẹ nhàng vào văn hoá Việt tạo nên những con người, hiện tượng bất ngờ. Không chủ trương đồng hoá, Pháp không chủ trương xoá văn hoá bản địa nên các công trình kiến trúc như đình, chùa, miếu, lăng tẩm không bị phá huỷ một cách có hệ thống. Nhiều lễ hội được tạo điều kiện tổ chức. Bản tính “mê” sưu tầm và nghiên cứu văn hoá của người Pháp đã tạo nên nhiều bảo tàng tại Việt Nam, trong số đó, có nhiều bảo tàng còn lại đến bây giờ hay ít nhất là cái vỏ văn hoá vẫn còn lại để giờ đây lại tiếp tục được sử dụng như bảo tàng lịch sử, bảo tàng mỹ thuật, bảo tàng cách mạng, bảo tàng mỹ thuật tp Hồ Chí Minh….
 

Văn hoá Pháp cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới lớp thanh niên trí thức, thành thị của Việt Nam để tạo thành những phong trào như Thơ mới, nhạc tiền chiến. Hầu  hết nhân sỹ, trí thức, nghệ sỹ lớn của Việt Nam đầu thế kỷ cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá và ngôn ngữ Pháp. Sự giao lưu văn hoá và học thuật thời kì đầu thế kỷ 20 được những nhân vật nổi trội gây dựng và chăm sóc như Victor Tardieu, Nam Sơn Vạn Thọ, Trương Vĩnh Kí, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Huyên… Cũng dưới ảnh hưởng của văn hoá Pháp mà thể loại tiểu thuyết và kịch nói ra đời. Các thể chế nghệ thuật khác như nhà hát Opera Hà Nội, Opera Sai gon, Opera Hải Phòng, rạp chiếu phim Cinema Palace (nay là rạp công nhân),… và tiếp tục tồn tại tới ngày nay.  Một trong những điểm son chói  lọi của cuộc gặp gỡ văn hoá Pháp Việt là sự ra đời của một loạt trường hội hoạ như trường mỹ nghệ thủ dầu một, đại học mỹ thuật Đông Dương (với sự hợp tác của Victor Tardieu và Hoạ sư Nam Sơn). Các cuộc triển lãm đấu xảo tại Hà Nội và tại Pháp cũng là dịp để văn hoá Đông Tây được giao hoà với nhau.
 

Văn hoá ẩm thực Pháp còn thẩm thấu mạnh mẽ vào xã hội Việt Nam để những thói quen mới được hình thành như uống cà phê, rượu vang, bánh mì, pa tê, các món trứng và thói quen dùng dao, nĩa.
 

Sự giao lưu không phải chỉ một chiều khi nhiều từ ngữ tiếng Việt đã đi vào từ vựng của Pháp như Cagna (cái nhà), Congay (con gái), nem, phở, bô bun (bún bò). Người Việt di cư qua Pháp (ít nhất là 4 lần: thế chiến thế giới 1, 1945, 1954, 1975 và sau đó) cũng như các du học sinh Việt Nam tại Pháp (trở về Việt Nam hay ở lại Pháp học tập, nghiên cứu, sinh sống) cũng đóng góp đáng kể vào việc giao lưu văn hoá giữa hai nước.

Từ những năm 1990, Pháp cũng chủ động đề nghị đào tạo nhiều nhân lực quan trọng như múa đương đại, điện ảnh, sân khấu, mỹ thuật, quản trị văn hoá, giao lưu văn học. Các hoạt động của trung tâm văn hoá Pháp tại các thành phố lớn như Hà Nội, tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế đã góp phần làm cuộc hoà nhập của nghệ thuật Việt Nam với thế giới và khu vực trở nên sôi động. Liên tục các cuộc triển lãm mỹ thuật, hội thảo học thuật, trao  đổi nghệ sỹ, workshop được tổ chức, có tác động không nhỏ tới việc nâng cao trình độ hoặc mở rộng hệ tham chiếu cho các nghệ sỹ Việt Nam cũng như nghệ sỹ Pháp. Có thể nhắc đến những cá nhân nổi bật như biên đạo múa Ea Sola, Regine Chopinot, đạo diễn Trần Anh Hùng, giảng viên truyện tranh Gerald Gorridge, nghệ sỹ gốm Francois Jarlov, nhà tạo mẫu Minh Hạnh, diễn viên Chiều Xuân, đạo diễn kịch Sarkis Tcheumleckdjan, đạo diễn festival Philippe Bouler,…
 

Thử thách của thế kỷ 21

Cuộc giao lưu văn hoá Pháp Việt chưa bao giờ ngừng lại nhưng cũng đang đứng trước những thử thách chưa từng có. Nếu như đầu thế kỷ thì giao lưu với nước Pháp, trao đổi văn hoá với Pháp đồng nghĩa với toàn cầu hoá thì nay các tác nhân và môi trường đã thay đổi rất nhiều. Ngôn ngữ - phương tiện trao đổi văn hoá hàng đầu ngày càng trở nên hiếm hoi. Số lượng người nói tiếng Pháp đang sụt giảm tuần tự, các hoạt động văn hoá tại Việt Nam ngày càng nhiều nên các chương trình văn hoá đã xuất hiện sự cạnh tranh, đòi hỏi những nỗ lực truyền thông mạnh mẽ hơn.
 

Sức ép tới sự trao đổi càng trở nên nặng nề khi giới trẻ - tương lai và chủ thể của giao lưu văn hoá -  đang có những thay đổi mạnh mẽ về cách tiếp nhận thông tin. Smart phone đã trở thành kênh truyền thông chính của giới trẻ thành phố tại Việt Nam. Quỹ thời gian hạn hẹp của họ được dành cho nhạc và phim Hàn Quốc, Mỹ nên thông tin về trao đổi văn hoá với các nước khác càng có  ít cơ hội đến với giới trẻ.
 

Rất cần những dự án văn hoá được xây dựng theo hướng chủ động hợp tác cả hai bên, nội dung có chiều sâu để có thể tận dụng tối đa nỗ lực truyền thông và sự tham gia của công chúng hai nước. Những dự án như xiếc mới Làng Tôi, các vở Hip Hop như Xe cộ, đại nhạc hội có sự tham gia của nghệ sỹ hai nước (như Oh là là),…có thể tượng trưng cho mô hình hợp tác kiểu mới cần phát triển. Những hoạt động như năm văn hóa Pháp tại Việt Nam 2013, hơn 100 chương trình nghệ thuật, văn hoá với sự tham gia của các nghệ sỹ Việt Nam và Pháp và năm Việt Nam tại Pháp 2014 thực sự là những chương trình cần thiết để tạo ra một hơi thở mới cho mối quan hệ giữa hai đất nước tuy cách xa về địa lý nhưng lại chia sẻ biết bao sự gần gũi này.
 

Nguyễn Đình Thành

Hà Nội 18/2/2014

Bài đăng trên Thể Thao Văn Hoá cuối tuần, số 8.

Bình luận
Hiện tại chưa có bình luận nào
Gửi bình luận của bạn
Mã xác nhận
Captcha image  
Được xem nhiều
  • Cái răng cái tóc là góc con người - Đào Hùng
  • MÁI TÓC TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT Nguyễn Xuân Kính Viện Nghiên cứu
  • 8 mẩu suy nghĩ về giới trẻ và “Élite” (*) trẻ - Dương Thụ
  • Bàn về xử lý khủng hoảng truyền thông tại Việt Nam
  • 9 lời khuyên cho bạn trẻ sắp đi thực tập
  • Hút xì gà có gì vui?
  • TOP 9 BEST MOVIES FOR PR PRACTITIONER & MARKETER
  • Sự tích con PR Agency
  • Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc
  • Dùng văn hóa nghệ thuật xây dựng thương hiệu
  • Gan ngỗng béo – niềm tự hào của nước Pháp (2011) - Tạp chí Đẹp
  • Chuyện “lớp trưởng” của con trẻ ở nước Đức
  • Like và share có màu và mùi gì?
  • Tóc em dài em cài thiên lý…
  • 16 cuốn sách và 40 blog về social media nên đọc
Thống kê truy cập

Từ khóa tìm kiếm
Facebook