A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

CÂU CHUYỆN SỐ HÓA DI SẢN VIỆT NAM

Nhãn


Phóng viên: Thưa ông, nhiều dự án số hóa hiện nay thì cũng đang dừng lại ở việc là đưa các dữ liệu lên mạng thôi. Theo ông tại sao nhiều sản phẩm vẫn chưa thực sự tạo được  sức hút cho công chúng?

Nguyễn Đình Thành:  Vâng, tôi nghĩ rằng nên phải xem lại xem cách làm như thế nào. Thứ nhất là, cần phải hiểu đúng là số hóa di sản là như thế nào. Tôi cho rằng số hóa di sản có ba giai đoạn. Giai đoạn một là điện tử hóa. Tức là chúng ta chụp, quay, scan đưa thông tin vật lý thành thông tin điện tử để có thể lưu trữ được trên máy tính hoặc gửi đi/truyền phát trên không gian mạng. Đó là điện tử hóa giai đoạn một. Giai đoạn hai gọi là số hóa cơ bản tức là các văn bản chẳng hạn thì sau khi được chuyển thành ảnh thì nó có thể chuyển được thành dạng text để người ta có thể đọc được: một bài văn tế, một sắc phong, người ta khai thác được câu chữ ở trong đấy; người ta khai thác được hình ảnh ở trong đấy. Đấy là giai đoạn hai là số hóa cơ bản. Giai đoạn ba là chuyển đổi số toàn diện hoặc là số hóa toàn diện. Tức là lúc đó thì một di sản thực sự trở thành một di sản số. Theo nghĩa là nó hoàn toàn có thể tồn tại và tạo giá trị trên mạng. Ví dụ như là trong lúc xem một và đọc một văn bản ta có thể dừng lại tương tác với văn bản đó. Thậm chí ta có thể tương tác với văn bản đó; khi xem một di sản thì ta có thể xem từng chi tiết, hỏi xem nó có ý nghĩa gì, nghe được các bài hát, bài cúng, xem được các chi tiết của một lễ hội, mua một sản phẩm có liên quan tới di sản số đó, xuất hiện trong di sản số đó, trao đổi mua bán các quà tặng số mua được từ đây, theo học các nội dung được giảng dạy trong di sản số đó trên mạng, cá nhân hóa sự tương tác với di sản số đó… đó mới gọi là số hóa toàn diện. Vậy thì nếu chỉ dừng lại ở cấp độ một là điện tử hóa nó thì chúng ta mới chỉ là dừng lại ở góc độ là truy cập được vào, xem được, nhìn được nhưng không khai thác được. Ở giai đoạn hai, chúng ta khai thác được một phần. Ở giai đoạn ba thực sự cho nó có một cuộc sống và lúc đó thì con người ta sẽ chìm đắm ở trong đấy. Ví dụ như di sản kiến trúc đình chùa của nước ta có thể được điện tử hóa. Số hóa một phần để người ta có thể truy cập được. Số hóa toàn phần là ai cũng có thể truy cập được, có thể được khai thác ở mức liên ngành kiến trúc – văn hóa – nội thất – thời trang – nghệ thuật biểu diễn...Có thể ở mức độ cao nhưng người ta vẫn gọi đấy là là metaverse tức là nó thực sự là một thế giới ảo và người ta có thể sống thực sự trong thế giới ảo đó.

Nhãn


Phóng viên: Và theo ông thì  thách thức lớn nhất khi mà chúng ta truyền tại các giá trị văn hóa di sản lên môi trường số hiện nay là gì?

Nguyễn Đình Thành:  Thách thức lớn nhất khi chúng ta truyền tải các di sản trên môi trường số hiện nay đó chính là trong nhiều trường hợp, ta mới dừng lại ở góc độ là điện tử hóa nó thôi, mới cho người ta nhìn thấy bên ngoài thôi. Các bạn có thể tưởng tượng như là chúng ta mới cho người ta nhìn thấy ngôi nhà thôi, còn không biết là trong ngôi nhà đấy có gì. Hiện tại nó không nó chưa thành công là vì nó mới dừng lại ở phía bên ngoài, nó là dừng lại ở tầng thấp nhất. Giống như là cho người ta xem một bát phở nhưng không cho người ta ăn bát phở đấy hoặc tiến lại gần hơn bát phở đấy chẳng hạn. Vì thế nó chưa sinh động và nó chưa khai thác được trọn vẹn những những tiềm năng của  di sản đó.

Trưng bày 3D về cây bàng tại Di tích Nhà tù Hỏa Lò

z5888429694056_c990f2fb1397ce06a62aac4b82066ac4.jpg

Không gian triển lãm "Bàng ơi!". Ảnh: BTC
 

Phóng viên: Và ở góc độ nghiên cứu văn hóa thì ông cho rằng  điều quan trọng nhất khi mà chúng ta số hóa di sản thì là công nghệ hay là cách mà chúng ta kể câu chuyện văn hóa? Hiện nay có rất nhiều các  bảo tàng cũng đã đã số hóa đã chuyển đổi số dần cũng đã đưa rất nhiều các sản phẩm có ứng dụng  khoa học công nghệ vào trong các tế di sản hay là các  tua để giúp cho người xem và khán giả có thể có những  tương tác tốt hơn đối với các sản phẩm du lịch này. Vậy thì ông đánh giá như thế nào về cách làm này?

Nguyễn Đình Thành:  Tôi cho rằng là cần phải đa dạng hóa cách khai thác các di sản và khai thác di sản số cũng không khác nhiều quá không khác nhiều quá so với khai khai thác di sản thật ở bên ngoài đời. Quan trọng nhất là cách chúng ta kể câu chuyện. Câu chuyện đấy phải là đúng câu chuyện, đúng đối tượng, đúng nhu cầu, đúng thời điểm và đúng cả phương cách nữa. Lấy ví dụ như là di tích nhà tù Hỏa lò. Di tích đó vẫn ở đó. Người ta vẫn có thể đến xem như bình thường, như một bảo tàng, một di tích bình thường. Nhưng thay đổi cách kể chuyện bằng cách là buổi tối đến cho người ta trải nghiệm, đi vào trong môi trường đấy, người ta nghe những câu chuyện, người ta xem những vở kịch, người ta được xem sắp đặt ánh sáng, người ta đứng trước những chứng nhân lịch sử như cây bàng, biết người ta được trải nghiệm  cảm giác chui qua một đường ống như thế nào, người ta được thắp hương, người ta được sống thực sự trong di sản đó thì người ta sẽ yêu hơn. Các nhà thiết kế sản phẩm đã biết tác động vào cả năm giác quan, thậm chí là sáu giác quan của người đến tham quan. Chính vì thế mà tour đêm Hỏa Lò trở thành một tour rất là hấp dẫn, nhiều người mong muốn. Vậy thì nếu di sản được số hóa ở trên không gian mạng chỉ là những bức ảnh vô hồn, thì nó cũng chỉ là giống như một di sản vật lý truyền thống mà thôi. Tôi có bức ảnh, tôi có ấn tín, tôi có trống đồng của người Việt Nam: dừng lại ở cách làm truyền thống là thế. Nhưng hãy cho người ta tiến lại gần trên không gian ảo xem trống đồng này có những hình gì, ý nghĩa ra sao, có thể quét để xem câu chuyện của con chim lạc như thế nào, người ta hiến tế ra sao, người ta sống như thế nào vào thời đó qua một video; bấm vào xem hình các vật dụng thời đó dưới dạng 3D; xem video nấu nướng thế nào. Nếu các em nhỏ thì có thể xem video hoạt hình, người lớn có thể xem video về là người lớn ở thời đó, những người trưởng thành sống như thế nào. Thế rồi người ta có thể bước vào không gian đấy như là người Việt cổ cách đây 1000 đến 2000 năm, nhìn xung quanh nhìn thấy con gì, nhìn thấy cây gì, xem thương cảng phố Hiến sôi động ra sao; đô thị cổ Faifo thế nào; người ta phải được đắm chìm trong không gian đó thì đó mới là cách khai thác các di sản số một cách hữu ích và hiệu quả, còn nếu không thì nó chỉ mang tính chất trưng bày. Điện tử hóa một bức ảnh và như vậy thì chúng ta mới chỉ đạt ở cấp độ một của số hóa di sản.

Phóng viên: Hiện nay thì cũng có rất là nhiều các bảo tàng cũng đã làm thành công các tour di sản có ứng dụng khoa học công nghệ như là Bảo tàng Lịch sử Quân đội hay hay là di tích Hoàng thành Thăng Long rồi Quốc Tử Giám. Vậy thì ông đánh giá ra sao về các sản phẩm này và trong thời gian tới thì chúng ta cần phải có những thay đổi như thế nào để giúp cho các sản phẩm này nó có tính ứng dụng cao hơn và thu hút hấp dẫn hơn đối với du khách?

z5888429674533_f63b0fed90cd3dd3671db27b167e9034.jpg Trưng bày được sắp đặt trên những mảng tường rêu phong của Di tích Nhà tù Hỏa Lò. Ảnh: BTC

Nguyễn Đình Thành:  Tôi cho rằng trong khai thác di sản kể cả di sản ngoài đời thực và di sản số đều cần phải có một tư duy tiếp cận đủ. Cách kể chuyện quan trọng hơn là bản thân tư liệu hình ảnh đó. Bởi vì sao? Bởi vì chỉ khi có câu chuyện hay thì thông tin đấy mới thấm được vào đến đối tượng công chúng mục tiêu. Còn nếu không thì nó chỉ mang tính lưu trữ bảo tồn như từ bao nhiêu năm nay. Điều này rất quan trọng nhưng nó chưa đủ trong thời đại số hiện nay. Chúng ta cần phải nhìn nữa là không phải chỉ hướng đến văn hóa người tiêu dùng trong nước mà văn hóa bây giờ là quyền lực mềm, là hình ảnh quốc gia, là hình ảnh của một quốc gia đang vươn mình; một quốc gia có lòng tự hào dân tộc và có bản sắc dân tộc; có câu chuyện để kể và điều đó rất quan trọng trên trường quốc tế hiện nay. Câu chuyện của di sản cần phải được khai thác một cách sinh động và thay đổi cách tiếp cận là quan trọng nhất. Từ đó thì sẽ có cách tiếp cận đa ngành. Ở đây sẽ có sự kết hợp của nhiều môn nghệ thuật khác nhau. Ví dụ như là kịch nói, như là sắp đặt ánh sáng, như là âm nhạc, như là ẩm thực, như là hội họa, như là thiết kế. Tức là 12 ngành công nghiệp văn hóa nó phải đan xen với nhau để tạo ra một sản phẩm văn hóa đủ hấp dẫn với người trong nước và người nước ngoài. Thứ hai là cần phải đa dạng hóa sự hợp tác công tư nhà nước và tư nhân cùng làm, cùng khai thác, cùng phát triển vì chúng ta đều là người Việt cùng hướng đến sự tỏa rạng của văn hóa Việt Nam ở trong nước và ngoài nước. Và thứ ba nữa cũng phải tăng cường thêm công tác truyền thông để cho những người đối tượng công chúng mục tiêu ở đây không phải chỉ là người trẻ mà còn nhiều đối tượng khác trong xã hội hiểu, yêu thích và đến cùng các di sản này thì lúc đó cả di sản ngoài đời thực lẫn di sản số đều thực sự có một cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển của công nghiệp văn hóa Việt Nam và đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam.

Phóng viên: Và với vấn đề về nguồn nhân lực vấn đề tài chính là câu chuyện môn thủa chúng ta vẫn đang nói. Tuy nhiên thì vấn đề nhân lực ở các bảo tàng các di sản văn hóa ở các địa phương thì  nguồn nhân lực tham gia câu chuyển đổi số cũng như là dùng khoa học công nghệ vào các sản phẩm này thì nó chưa thực sự có chất lượng tốt. Vậy thì với ông, ông đánh giá sao về nguồn nhân lực tham gia vào công tác chuyển đổi số trong phát triển văn hóa hiện nay?

 

 

Nguyễn Đình Thành: Để phát triển văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa cần phải thay đổi về mặt thể chế, thay đổi tư duy. Thay đổi về mặt thể chế tức là gì? Về nguồn lực: nếu một địa phương chỉ dựa vào nguồn lực của địa phương thì không bao giờ phát triển được. Lịch sử loài người cũng như thế. Nó phải có sự tiếp biến văn hóa. Nó phải có sự kết hợp của nhiều nguồn lực khác nhau. Rất may là chúng ta đang sống trong thời đại số. Một người làm việc ở Hà Nội, một người ở Đà Nẵng, một người ở thành phố Hồ Chí Minh hoàn hoàn toàn có thể làm việc cùng với nhau, cùng với một người ở Mù-cang-trải, cùng với một người ở Cần Thơ. Nó không có bất cứ một rào cản nào vì nó là tài sản số, nó là dữ liệu số, chỉ thay đổi cách khai thác nó mà thôi. Thậm chí là chúng ta nhìn thấy cũng không phải là xa xôi mà ờ cách đây hơn 10 năm khi mà kỷ niệm 40 năm quan hệ Pháp Việt thì chúng ta đã có một  màn gọi là trình diễn chiếu 3D lên mặt cổng dinh Thống Nhất. Lê Cát Trọng Lý hát cùng với một ca sĩ người Tây Ban Nha và hai người đã làm việc với nhau 2 năm. Thế thì trong thời đại số hiện nay thì một người Việt Nam có thể làm việc với đối tác của mình ở bất kỳ nơi nào trên thế giới và thậm chí có thể biểu diễn mà người kia không cần phải di chuyển đến Việt Nam. Điều đấy trên không gian số rất là dễ dàng, hoàn toàn có thể làm được. Điểm nghẽn ở đây chính là thể chế, điểm nghẽn ở đây chính là tư duy. Vậy thì cải cách thể chế và thay đổi tư duy chắc chắn là chúng ta có thể có những cách khai thác à di sản số và di sản ngoài đời thực một cách hết sức sinh động và hiệu quả.

VTV 1 Không gian Văn hóa Nghệ thuật - thứ 7, ngày 28/3/2026
https://vtvgo.vn/ts/Wzer61DpE9-20260328-240744

 


Lượt xem: 18
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan